Trình bày về kết cấu thanh truyền

Hôm nay kiến thức ô tô của VATC có gì? Hãy cùng trung tâm tìm hiểu chi tiết về chủ đề: trình bày về kết cấu thanh truyền qua bài viết kỹ thuật sau đây.

1. Thanh truyền/Tay biên (tay dên)

1.156 Thanh truyền và các chi tiết trên thanh truyền
Thanh truyền và các chi tiết trên thanh truyền.

Thanh truyền (tiếng Anh: connecting rod), hay còn gọi là tay biên, tay dên (từ tiếng Pháp: bielle), là một bộ phận của động, có nhiệm vụ kết nối pít-tông với trục khuỷu. Thanh truyền kết hợp cùng với tay quay (khuỷu) biến đổi chuyển động tịnh tiến của pít-tông thành chuyển động quay của trục khuỷu. Thanh truyền chịu lực nén và lực kéo từ pít-tông và quay ở hai đầu.

Tiền thân của thanh truyền là cơ cấu liên hợp cơ học dùng trong các cối xay nước. Cơ cấu liên hợp này biến đổi chuyển động quay của bánh xe nước thành chuyển động tịnh tiến. Thanh truyền được dùng chủ yếu trong các động cơ đốt trong hoặc động cơ hơi nước. 

Thanh truyền là một chi tiết máy quan trọng được vận dụng trong các ngành công nghệ chế tác máy, đặc biệt là trong hệ thống động cơ ô tô. Thanh truyền có cấu tạo gồm các bộ phận chính: thân thanh truyền, đầu to, đầu nhỏ và bạc lót đầu to.Và theo cấu tạo như trên thì các bộ phận được kết nối với nhau như sau:

Đầu nhỏ tay biên  được lắp với chốt pít-tông bên trong có bạc lót, phía trên có lỗ dầu bôi trơn cho bạc, bạc lót được ghép chặt vào đầu nhỏ thanh truyền. Thân thanh truyền ở giữa để nối đầu nhỏ với đầu to lại với nhau. Đầu to thanh truyền thì được nối với cổ trục khuỷu với 2 nửa, một nửa trên liền với thanh truyền, một nửa dưới chế tác rời và được ghép với nhau bằng bu-lông  thanh truyền.

2. Thiết kế thanh truyền

1.157 Thanh truyền và bu-lông thanh truyền
Thanh truyền và bu-lông thanh truyền.

Đầu lớn của thanh truyền phải là một vòng tròn hoàn hảo. Sau khi thanh truyền và nắp thanh truyền được gia công ban đầu, chúng phải vẫn là một bộ phù hợp, do cần gia công chính xác để có được một vòng tròn hoàn hảo. Do đó, các nắp thanh truyền không được hoán đổi cho nhau. Các lỗ bu lông lắp ráp gần nhau được doa trong cả nắp và thanh truyền  để đảm bảo căn chỉnh.

Trong một số động cơ, các thanh tuyền bù đắp cung cấp sự phân bố tiết kiệm nhất về không gian ổ trục chính và khe hở má trục khuỷu. 

Hình 1.158 Dấu lắp đặt hướng của thanh truyền
Dấu lắp đặt hướng của thanh truyền.

Để thanh truyền phù hợp với trục khuỷu, đầu lớn được chia làm hai. Nửa dưới, gọi là nắp thanh, có thể tháo rời. Đầu lớn của thanh truyền được kết nối với ổ trục của trục khuỷu. Các bu lông hoặc đai ốc của nắp thanh sau đó được xiết chặt (theo thông số của nhà sản xuất) bằng một cờ lê lực. Khi trục khuỷu quay, ổ trục của trục khuỷu quay trên các miếng bạc lót ổ bên trong đầu lớn của thanh truyền. Nó là một phần của cụm quay. Thanh tuyền chúng sẽ truyền tải chuyển động tịnh tiến và lực của pít-tông đến trục khuỷu quay. Hầu hết các thanh truyền nguyên bản có hình dạng giống như một dầm I dọc theo chiều dài của thanh truyền. Một số thanh truyền hiệu suất trên thị trường phụ tùng có hình dạng H. Thanh có hình dạng H mạnh hơn trong các ứng dụng tốc độ cao. Hầu hết các thanh truyền có thêm kim loại ở mỗi đầu (đệm cân bằng) để cân bằng.

Có bốn loại thanh nối cho động cơ hiện đại:

Đúc, rèn, nhôm và kim loại bột. Bất kể cách nào thanh truyền được sản xuất, khi nắp thanh được tháo ra, nó phải được lắp lại vào cùng một thanh truyền. Nó không thể thay thế cho nhau. Nó cũng phải được lắp lại theo đúng hướng và chiều quay của chúng. Quy trình tốt nhất để đảm bảo rằng các nắp và thanh truyền không bị trộn lẫn là đánh dấu chúng gần đường gạch hoặt đống dấu.

Pít-tông để giúp bôi trơn chốt pít-tông. Một lỗ tương tự như lỗ nhổ có thể được sử dụng, được gọi là lỗ xả, để kiểm soát dòng dầu qua ổ trục.

3. Thanh truyền đúc

1.159 Đường chia mõng của thanh truyền dạng đúc
Đường chia mõng của thanh truyền dạng đúc.

Vật liệu và quy trình đúc đã được cải tiến để chúng được sử dụng trong hầu hết các động cơ xe có tiêu chuẩn sản xuất cao. Các thanh truyền đúc có thể được xác định bởi đường phân chia hẹp của chúng. Đó là đặt điểm nhận dạng đối với thanh truyền dạng đúc. 

4. Thanh truyền rèn

1.160 Thanh truyền dạng rèn
Thanh truyền dạng rèn.

Thanh truyền rèn đã được sử dụng trong nhiều năm. Chúng thường được sử dụng trong động cơ hạng nặng và hiệu suất cao. Nói chung, phương pháp rèn tạo ra trọng lượng lớn hơn và các thanh kết truyền mạnh hơn nhưng đắt tiền hơn. Các thanh truyền rèn có thể được xác định bằng đường phân chia rộng của chúng. Nhiều thanh truyền hiệu suất cao sử dụng bạc lót bằng đồng ở đầu nhỏ.

5. Thanh truyền dạng kim loại bột

1.161 Vết nứt giữa thanh truyền và nắp thanh
Vết nứt giữa thanh truyền và nắp thanh.

Hầu hết các động cơ sản xuất mới, bao gồm General Motors Northstar, Ford 4.6, 5.0 và 6.6 lít OHC V-8, và Chrysler Hemi, sử dụng các thanh truyền kim loại (PM). Thanh truyền kim loại bột có nhiều ưu điểm so với thanh đúc hoặc rèn thông thường bao gồm kiểm soát trọng lượng chính xác

Loại thanh truyền kim loại bột này sau đó được đặt trong khuôn và nén (rèn) dưới áp suất từ 30 đến 50 tấn.

Sau khi bộ phận được định hình trong khuôn, nó được thực hiện thông qua một hoạt động thiêu kết, trong đó bộ phận được nung nóng, không nóng chảy, đến khoảng 2.000 ° F. Trong quá trình thiêu kết, các thành phần được chuyển hóa thành liên kết luyện kim, tạo độ bền cho bộ phận.

Gia công rất hạn chế và bao gồm khoan đầu nhỏ và lớn và khoan lỗ cho bu lông giữ nắp ổ trục thanh.

Đầu lớn sau đó được gãy bằng cách sử dụng một máy ép lớn. Đường chia không đồng đều giúp đảm bảo sự kết hợp hoàn hảo khi các mảnh được lắp ráp.

6. Đo kiểm và kiểm tra thanh truyền

1.162 Làm sạch đầu to thanh truyền
Làm sạch đầu to thanh truyền.

Các pít-tông được tháo ra khỏi các thanh bằng cách sử dụng một số SST Chuyên dụng.

Trước khi tân trang lại thanh truyền, cần kiểm tra độ xoắn của thanh. Nói cách khác, lỗ ở đầu nhỏ và lỗ ở đầu lớn của thanh truyền phải song song. Không quá 0.002 in. (0,05 mm) xoắn có thể chấp nhận được. Để biết thiết bị cố định được sử dụng để kiểm tra độ xoắn của các thanh truyền. 

7. Các mã được đánh trên thanh truyền 

Hình 1.163 Mã trên thanh truyền
Mã trên thanh truyền.

Trong sản xuất hàng loạt, thanh truyền không phải cái nào cũng có khối lượng hoàn toàn giống nhau (do dung sai gia công, vật liệu).

Nhà sản xuất phân loại chúng thành từng “hạng” (class) khối lượng ở đầu lớn và đầu nhỏ để cân bằng động của động cơ.

Khi lắp ráp động cơ, thợ lắp sẽ chọn các thanh truyền cùng nhóm trọng lượng hoặc cân đối để giảm rung động, tăng tuổi thọ và độ êm.

Mã “XX-YY” được khắc gần phần thân của thanh truyền.

Đây là mã phân loại khối lượng (weight class) của hai đầu thanh truyền.

XX = hạng khối lượng (weight class) của đầu lớn (large connecting rod eye – đầu lắp chốt trục khuỷu).

YY = hạng khối lượng (weight class) của đầu nhỏ (small connecting rod eye – đầu lắp chốt pít-tông).

Ví dụ cách đọc:

  • “03-02” → đầu lớn thuộc weight class 03, đầu nhỏ thuộc weight class 02.
  • “01-01” → cả hai đầu cùng hạng khối lượng 01.

Trên đây là toàn bộ thông tin về chủ đề hướng dẫn sửa chữa mã lỗi B1412 – Cảm biến nhiệt độ môi trường (Ambient Temperature Sensor Circuit) trên xe Toyota Prius 2007 mà trung tâm VATC muốn gửi đến bạn. Hy vọng bài viết này sẽ bổ ích và hữu dụng với bạn.

Nếu bạn có đang đam mê hoặc muốn tìm hiểu về các khóa học trong ngành ô tô thì liên hệ ngay với trung tâm VATC theo thông tin dưới đây để được tư vấn chi tiết nhất nhé!

Trung Tâm Huấn Luyện Kỹ Thuật Ô Tô Việt Nam – VATC

  • Địa chỉ: Số 4-6, Đường số 4, Phường Hiệp Bình Phước, Thành Phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh
  • Điện thoại: 0945711717
  • Email: info@oto.edu.vn

Xem thêm:

Đội ngũ chuyên gia VATC

Chúng tôi là những chuyên gia Nội dung & Truyền thông tại trung tâm VATC - mang đến cho bạn những Tin tức - Sự kiện mới nhất của trung tâm cũng như cập nhật các Kiến thức - Tài liệu chuyên ngành Ô tô hay nhất.

×

Điền thông tin để tải



    ×

    Thông báo

    ×

    Thông báo